Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó quy định giảm trừ tối đa 47 triệu đồng cho chi phí y tế giáo dục khi tính thuế TNCN.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, người nộp thuế sẽ được giảm trừ tối đa 47 triệu đồng cho chi phí y tế giáo dục khi tính thuế TNCN, bao gồm:
+ Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
+ Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo.
Tuy nhiên, để được giảm trừ chi phí y tế giáo dục khi tính thuế TNCN thì người nộp thuế cần đáp ứng các điều kiện sau:
|
(1) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sửdụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; (2) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế; (3) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức. Đồng thời tại khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ các khoản chi phí giáo dục y tế nêu trên vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế. |
Lưu ý: Các khoản giảm trừ khác phát sinh vào năm nào thì được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó, không được chuyển trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế tiếp theo. Trường hợp cá nhân đã thực hiện quyết toán thuế mà chưa có hóa đơn, chứng từ để xác định các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo theo quy định trên thì việc điều chỉnh nghĩa vụ thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
*Trên đây là thông tin về Điều kiện để được giảm trừ chi phí y tế giáo dục khi tính thuế TNCN từ 1/7/2026.
Chính thức thu nhập 28,6 triệu đồng/tháng trở lên mới phải nộp thuế TNCN từ 1/7/2026 ra sao?
Theo đó, từ 1/7/2026 NNT được giảm trừ thuế TNCN đối với khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo được quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:
Theo đó, từ 1/7/2026 NNT được giảm trừ thuế TNCN đối với khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo, cụ thể như sau:
– Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
– Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đảo tạo.
Bên cạnh đó, theo Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 tăng mức giảm trừ gia cảnh từ năm 2026, cụ thể như sau:
– Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 15.5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
– Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
|
Như vậy, từ 1/7/2026 nâng mức giảm trừ lên 23 triệu đồng đối với y tế và 24 triệu đồng đối với giáo dục, tổng cộng có thể lên đến 47 triệu đồng/năm. NHƯ VẬY, một cá nhân có 1 người phụ thuộc có thể đạt tổng mức giảm trừ lên đến khoảng 307.5 triệu đồng/năm (chưa tính các khoản bảo hiểm bắt buộc và đóng góp từ thiện). Đồng nghĩa với việc cá nhân có thu nhập khoảng 28 triệu đồng/tháng sau khi thực hiện đầy đủ các khoản giảm trừ sẽ thuộc diện chưa phải nộp thuế TNCN. Cá nhân có ngưỡng thu nhập trên 28,6 triệu đồng/tháng mới bắt đầu phát sinh thuế TNCN suất bậc 1 (5%). |
Cụ thể, mức tổng giảm trừ thuế TNCN được tính như sau:
|
– Giảm trừ bản thân: 186 triệu đồng/năm – Giảm trừ y tế, giáo dục: 47 triệu đồng/năm – Giảm trừ người phụ thuộc: 6,2 triệu/tháng = 74,4 triệu/năm Tổng giảm trừ = 233 triệu + (74,4 triệu × số người phụ thuộc) Trường hợp có 1 người phụ thuộc → 233 + 74,4 = 307,4 triệu/năm Mức giảm trừ thuế TNCN 1 tháng: 307,4 / 12 ≈ 25,62 triệu/tháng Tuy nhiên, do thực tế còn được trừ thêm bảo hiểm bắt buộc thường khoảng 10,5% lương (8% bảo hiểm xã hội, 1,5% bảo hiểm y tế và 1% bảo hiểm thất nghiệp trên tiền lương) Gọi thu nhập là X, thì để không phải nộp thuế, cần: X – X10,5% = 25,62 triệu/tháng --> X ≈ 28,62 triệu/tháng. --> Thu nhập trên 28,6 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế TNCN. |
Quy định về giảm trừ gia cảnh theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025
Quy định về giảm trừ gia cảnh được quy định tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, cụ thể như sau:
[1] Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:– Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
– Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
[2] Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản [1] phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. [3] Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế. [4] Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:– Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
– Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.

